Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến tranh Việt Nam (1954-1975) là giai đoạn cuối và khốc liệt nhất của Chiến tranh Đông Dương (1945-1975). Đây là cuộc chiến giữa một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Bắc Việt Nam do Đảng Lao động Việt Nam (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo cùng với những người cộng sản tại miền Nam Việt Nam và sự trợ giúp từ các nước xã hội chủ nghĩa (cộng sản), đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc. Bên kia là Việt Nam Cộng hoà ở Nam Việt Nam và Hoa Kỳ, cùng một số đồng minh khác như: Úc, New Zealand, Ðại Hàn, Thái Lan và Philippines. Cuộc chiến này tuy gọi là "Chiến tranh Việt Nam" nhưng chiến sự lan ra toàn cõi Đông Dương, lôi cuốn vào vòng chiến cả hai nước lân cận là Lào và Campuchia ở các mức độ khác nhau. Do đó cuộc chiến còn được gọi là Chiến tranh Đông Dương lần thứ 2.
Kỵ binh bay Mỹ đổ quân- Nam Việt Nam 1966
Cuộc chiến này chính thức kết thúc với sự kiện 30 tháng 4, 1975, khi Tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa đầu hàng các lực lượng miền Bắc và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, sau đó, quản lý miền Nam cho đến khi đất nước thống nhất dưới tên Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vào năm 1976.
Bản chất của Chiến tranh Việt Nam
Bản chất của Chiến tranh Việt Nam rất phức tạp và đa diện tuỳ theo lập trường của các bên và hiện nay đang còn được tranh luận nhưng có thể rút ra một số đặc điểm sau:
- Đối với các nhà lãnh đạo của hai miền Việt Nam và các đồng minh của họ thì đây là cuộc chiến tranh giữa hai hệ tư tưởng: chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa chống cộng sản, rõ ràng cuộc chiến này mang tính ý thức hệ rất sâu sắc. Để ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản (Xem Thuyết Domino), chính phủ Mỹ đã đứng ra cáng đáng chi phí của cả cuộc chiến, quân đội Mỹ đã trực tiếp chiến đấu trên chiến trường thay cho quân đội Việt Nam Cộng hoà. Vì hệ tư tưởng nên Liên Xô và Trung Quốc đã cùng giúp đỡ tối đa cho miền Bắc Việt Nam trong khi họ vẫn xung đột với nhau.
- Đối với một phần lớn dân chúng tại Việt Nam thì đây là sự tiếp tục của cuộc chiến giành độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Phía cộng sản đã thành công trong việc làm cho dân chúng tin rằng họ đang đấu tranh cho độc lập và thống nhất đất nước; còn phía Việt Nam Cộng hoà thì ngày càng phụ thuộc vào Mỹ và đã không duy trì được vai trò độc lập của họ trong con mắt của người dân (nhất là sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết). Cuộc chiến này mang tính dân tộc rất cao: sự độc lập và thống nhất đất nước đã trở thành yếu tố quyết định giúp những người Cộng sản thắng lợi chứ không phải là nhờ vào hệ tư tưởng hay ưu thế quân sự của họ.
- Trên cục diện quốc tế đây là cuộc "chiến tranh nóng" trong lòng chiến tranh lạnh đang diễn ra quyết liệt lúc đó trên thế giới. Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến gây nhiều tàn phá nhất trong lịch sử Việt Nam và gây chia rẽ rất sâu sắc trong lòng dân tộc Việt Nam cũng như sáo trộn, chia rẽ trong nước Mỹ và nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Cuộc chiến tranh này được nhiều người phân đoạn theo các cách khác nhau. Người Mỹ thường xem "Chiến tranh Việt Nam" được tính từ khi khi họ trực tiếp tham chiến trên bộ đến khi chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đầu hàng (từ 1965 đến 1975). Có nhiều nguồn coi cuộc chiến là 1960 đến 1975, tính từ khi miền Bắc bắt đầu công khai ủng hộ đấu tranh vũ trang tại miền Nam. Nhưng quan điểm chung vẫn coi Chiến tranh Việt Nam được tính từ 1954 đến 1975.
Kết quả và Việt Nam sau cuộc chiến
Tùy theo nguồn tin, cuộc chiến này đã giết từ 2 cho đến 3 triệu người Việt, làm hàng triệu người khác tàn tật và bị thương hiện nay tại Việt Nam còn hàng vạn nạn nhân chất độc hoá học (Xem Chất độc da cam). Trong các nườc đồng minh của Việt Nam Cộng hoà, quân đội Mỹ có số thương vong cao nhất với hơn 58.000 người chết và hơn 153.000 người bị thương. Vào khoảng 4.400-5.000 binh sĩ Đại Hàn bị chết; Úc khoảng 500 chết và hơn 3.000 bị thương; New Zealand 38 chết và 187 bị thương; Thái Lan 351 chết và bị thương; còn Philippines vẫn chưa có các con số này. Cơ sở hạ tầng của xã hội Việt Nam bị phá hoại gần hết và, đáng kể nhất, đã gây chia rẽ hận thù rất sâu sắc giữa các người Việt.
Việt Nam, bước ra sau chiến tranh, được xác lập là một nhà nước thống nhất đã chiến thắng "siêu cường số một" của thế giới. Điều đó, tất nhiên, sẽ là tiền đề để phát triển Việt Nam sau này. Mặt khác, sau chiến tranh những điểm yếu to lớn về kinh tế, xã hội theo mô hình xã hội chủ nghĩa và cộng sản đã nhanh chóng phát tác trầm trọng (những điểm mà trong thời chiến dân chúng còn tạm chấp nhận). Cùng với những chia rẽ sâu sắc vốn có của chiến tranh, chúng đã làm cho nhân tâm sa sút. Thêm vào đó, chất lượng cuộc sống tụt dốc sau khi Việt Nam tham gia vào xung đột biên giới với Trung Quốc và chiếm đóng Campuchia (hơn 10 năm). Những sai lầm về đường lối kinh tế và lãnh đạo này đã tạo nên làn sóng người bỏ nước ra đi khổng lồ (Xem Thuyền nhân). Sau 10 năm thống nhất đất nước nhu cầu đổi mới cho Việt Nam là tất yếu và sống còn.
Diễn biến theo thời gian
Sự phân đoạn như sau cốt chỉ để tiện tham chiếu cho các diễn biến chính trên chiến trường. Trong báo chí và các diễn đàn về Chiến tranh Việt Nam còn rất nhiều cách phân đoạn khác nhau tuỳ theo trọng điểm phân tích.
Giai đoạn 1954-1959
Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đã mất hẳn ý chí tiếp tục chiến đấu giữ thuộc địa Đông Dương. Hiệp định Geneva, theo sự dàn xếp của các cường quốc, tạm thời chia Việt Nam ra thành hai khu vực cho hai chính thể đối địch nhau. Miền Bắc giành cho chính phủ của những người Cộng sản vừa giành được thắng lợi quan trọng trên chiến trường - đây là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Miền Nam giành cho tất cả các lực lượng Quốc gia Việt Nam, những người mong muốn độc lập cho Việt Nam nhưng bác bỏ lý luận đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của những người Cộng sản. Vĩ tuyến 17 được xem là ranh giới và một khu phi quân sự tạm thời được lập dọc theo hai bên bờ sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị. Quân đội Pháp phải rút về miền Nam và triệt thoái khỏi Việt Nam, sau khi trao lại chính quyền cho Việt Nam. Quân đội Nhân dân Việt Nam tập kết về miền Bắc, lực lượng quân đội của Quốc Gia Việt Nam về miền Nam. Người dân hai miền được quyền lựa chọn thể chế nào họ thích và được tự do đi lại giữa hai miền trong thời hạn chuyển tiếp 100 ngày. Hai năm sau là thời gian tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Nhưng trên thực tế các nhà lãnh đạo của hai miền và các đồng minh nước ngoài của họ đã biết chắc chắn chẳng có tổng tuyển cử tự do. Các bên ngay lập tức chuẩn bị cho cuộc chiến tranh tất yếu xảy ra.
Tình hình tại miền Bắc
Bài chính: Miền Bắc Việt Nam 1954 - 1959
Những người lãnh đạo miền Bắc lúc đó là những người Cộng sản được dân chúng tin tưởng và tung hô vì họ vừa chiến thắng cuộc chiến giành độc lập (xem Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất). Sau khi thắng Pháp, họ ngay lập tức bắt tay vào việc tổ chức đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt là vận dụng các phương pháp cực đoan của Mao Trạch Đông trong các "công tác phát động quần chúng" để đấu tranh giai cấp, thực hành chuyên chính vô sản và các công tác tuyên truyền khác. Các chiến dịch cải cách ruộng đất, hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo tư bản tư doanh đã san bằng các thành phần xã hội, tiêu diệt giai cấp hữu sản và không cho phép các chính kiến đối lập với Đảng Cộng sản. Đời sống xã hội dựa trên nguyên tắc kỷ luật hoá cao độ, các quyền tự do cá nhân và các tổ chức bị hạn chế đến mức chỉ còn là hình thức trong một "nhà nước-đảng". Xã hội nhanh chóng chuẩn bị cho cuộc sống quân sự hoá toàn diện khi "mỗi người dân đều là một chiến sĩ".
Tuy nhiên, nhìn chung, xã hội miền Bắc trong thời gian 1954-1959 là một xã hội cực quyền cao độ, các chính sách của Đảng Cộng sản có gây ra bất bình và phẫn uất trong dân chúng, nhưng về cơ bản người dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vẫn chấp nhận những mất mát và coi đó như điều cam chịu. Uy tín của Đảng vẫn rất cao, dân chúng vẫn tin tưởng vào sự lãnh đạo của họ và họ vẫn động viên được sự hy sinh của dân chúng để chuẩn bị cho mục tiêu thống nhất đất nước mà tất yếu sẽ phải giải quyết bằng chiến tranh. Có lẽ các phương pháp phát động quần chúng của những người Cộng sản có mặt nào đó phù hợp với tâm lý của dân chúng ở những xã hội kém phát triển và mang nặng đặc điểm nông nghệ như xã hội miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ.
Quân đội Nhân dân Việt Nam được tổ chức lại, nhất là về mặt chính trị để bảo đảm trung thành tuyệt đối với đảng. Một cán bộ lý luận cộng sản cấp cao nhất, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, được biệt phái sang quân đội để thành lập Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam nhằm thực hiện chính sách của đảng trong quân đội. Công tác chính trị được đặt cao hơn công tác quân sự. Nhiều sĩ quan xuất thân từ thành thị, có kinh nghiệm tác chiến và học vấn tốt đã bị thay thế vì các tiêu chuẩn như thành phần lý lịch và không đủ độ tin tưởng của đảng. Thay vào đó là lớp sĩ quan xuất thân từ nông dân. Tuy đó là một xáo trộn lớn nhưng nó chủ yếu chỉ diễn ra trong hàng ngũ cán bộ sơ cấp và trung cấp. Hàng ngũ tướng lĩnh chỉ huy của quân đội vẫn không bị xáo trộn nhiều. Trong chuyện này có sự can thiệp của những lãnh tụ cấp cao nhất rất thực tế và ít cực đoan như Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Việc hiện đại hoá quân đội được tiến hành nhưng chậm và không đồng bộ, nhiều sư đoàn bộ binh được thành lập thêm nhưng vẫn mang tính bộ binh đơn thuần, hoả lực thiếu, yếu và chắp vá. Quân đội chưa có các quân binh chủng kỹ thuật cao như không quân, radar...; hải quân, tăng thiết giáp còn đang trong quá trình sơ khai; phương tiện vận tải, thông tin liên lạc còn yếu kém. Những điều này phản ánh tình hình kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lúc bấy giờ vì lúc đó đồng minh lớn nhất, Liên Xô, còn chưa định hướng được chính sách viện trợ của họ. Còn đồng minh Trung Quốc thì chưa hồi phục sau Chiến tranh Triều Tiên. Cả hai nước này cũng chưa muốn căng thẳng với Hoa Kỳ về vấn đề Việt Nam vào thời điểm đó.
Nhưng chính vào giai đoạn này miền Bắc đã bí mật cho tiến hành phát triển tuyến đường tiếp vận chiến lược: Đường Trường Sơn - còn được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh. Đây sẽ là một tuyến vận chuyển chiến lược đảm bảo nhu cầu chiến tranh sẽ được mở rộng tại miền Nam sau này. Nhưng vào lúc đó tuyến đường này vẫn chỉ là các lối mòn trong rừng cho giao liên và các toán cán bộ vào nam.
Nói chung, các nỗ lực tranh đấu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào thời kỳ này là đấu tranh chính trị và ngoại giao để đòi tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneva, mà nếu nó xảy ra chắc chắn các lãnh tụ cộng sản sẽ thắng cử. Miền Bắc ở giai đoạn này đang tích luỹ nhưng chưa đủ khả năng để tiến hành chiến tranh tại miền Nam.
Tình hình tại miền Nam
Bài chính: Miền Nam Việt Nam 1954 -1959
Ở miền Nam, với sự trợ giúp tích cực của Hoa Kỳ, thủ tướng vừa được bổ nhiệm Ngô Đình Diệm đã nhanh chóng ổn định được tình hình. Quốc trưởng Bảo Đại, vì không phải là đối thủ của Ngô Đình Diệm, đã phải ra đi. Sau cuộc trưng cầu ý dân ngày 23 tháng 10 năm 1955 Ngô Đình Diệm trở thành tổng thống và miền Nam (lúc đó có tên là Quốc Gia Việt Nam) trở thành Việt Nam Cộng hoà. Với mục đích xây dựng một nước Việt Nam độc lập, tự do, phi cộng sản và đối trọng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chính phủ Hoa Kỳ đã viện trợ lớn cho Việt Nam Cộng hoà. Giai đoạn 1954-1959 là thời đỉnh cao của chế độ tại miền Nam. Chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã đạt được một số thành quả quan trọng: kinh tế phục hồi và phát triển nhanh, đời sống của dân chúng khá sung túc... Chính phủ của ông đã thực hiện rất tốt việc tái định cư cho dân di cư từ miền Bắc và dân chạy nạn chiến tranh. Tổng thống Diệm, với sự trợ giúp của người em là Cố vấn Ngô Đình Nhu, đã nhanh chóng thanh lọc bộ máy cầm quyền, đưa các người trung thành với họ vào các vị trí thường được xem là của Pháp. Việc loại bỏ ảnh hưởng của Pháp làm cho ông Diệm có tiếng là người theo chủ nghĩa dân tộc. Việt Nam Cộng hoà cũng thành công trong việc thống nhất lại các lực lượng quân đội quốc gia vốn là nhiều mảnh vụn, nhiều phe cánh khác nhau khi còn là quân đội của Quốc Gia Việt Nam trong thành phần quân đội Pháp. Nổi bật nhất là việc chính phủ Ngô Đình Diệm đã nhanh chóng bình định các lực lượng vũ trang cát cứ của nhóm Bình Xuyên, của các giáo phái và các toán cộng sản còn sót lại. Quân đội Việt Nam Cộng hoà được cấp tốc trang bị và huấn luyện với sự giúp đỡ của các cố vấn Hoa Kỳ. Quân đội này vào thời điểm đó về trang bị, trình độ huấn luyện là đứng đầu khu vực Đông Nam Á, vượt trội hơn Quân đội Nhân dân Việt Nam - đối thủ đang tiềm tàng ở miền Bắc của họ.
Là tổng thống đầu tiên ông Diệm đã để lại nhiều dấu ấn cho chính trị của miền Nam, kể cả sau khi chết. Trong một nhà nước tập quyền như Việt Nam Cộng hoà lúc bấy giờ thì chính trị của quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào các đặc tính cá nhân của tổng thống. Ông Diệm, ngay trong thời kỳ sơ khởi này của chế độ, đã bộc lộ những điểm yếu chí mạng mà sau đó đã bị đối thủ khai thác tối đa để dùng trong các chiến dịch phản tuyên truyền làm bất ổn chính thể của ông và, cuối cùng, đưa đến sự thất bại của chính thể đó.
Tất cả các nhà lãnh đạo của Việt Nam Cộng hoà, từ Ngô Đình Diệm cho đến Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh sau này, không ai có được uy tín cao trong dân chúng như là những người hy sinh đấu tranh cho độc lập cho dân tộc. Phần nhiều, họ là những quan chức cũ của bộ máy nhà nước thuộc Pháp. Đã thế, họ lại xuất thân là các công chức, trí thức chịu nhiều ảnh hưởng Tây phương, xa rời với tâm lý của nông dân. Họ rất yếu trong công tác dân vận, thậm chí khi xuống địa phương gặp quần chúng họ lại nói tiếng Pháp. Ông Diệm còn thụ hưởng nghi lễ rửa chân làm Hoàng đế của người Thượng. Trong khi đó cách dân vận của phe Cộng sản thì lại hợp lý hơn: cán bộ của họ "ba cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với nông dân, cán bộ người Kinh của họ "cà răng căng tai" cùng người Thượng. Chính phủ Việt Nam Cộng hoà mang tiền của trợ cấp cho nông dân, phe Cộng sản thì không cho, nhưng dân chúng nghe tuyên truyền của phe Cộng sản hơn nghe lời khuyến dụ của nhà nước.
Việc Việt Nam Cộng hoà cự tuyệt tổng tuyển cử và phải đấu tranh chống với miền Bắc là hợp lý vì đó là bản năng tự vệ của chính thể đó nhưng các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, liên gia phòng vệ, dồn dân lập ấp chiến lược... đã diễn ra tàn bạo không tính đến các đặc điểm tâm lý và quyền lợi của dân chúng cũng như hoàn cảnh lịch sử: Việt Nam vừa thắng trong chiến tranh chống Pháp. Bằng cách này chính phủ Ngô Đình Diệm đã phủ nhận niềm tự hào của dân chúng, làm biến dạng mô hình xã hội dân chủ tự do và đẩy những người kháng chiến cũ ra rừng lập chiến khu. Đồng thời đây là cơ hội rất tốt cho những người Cộng sản phản tuyên truyền coi miền Nam như "tay sai đế quốc".
Ông Diệm có lực lượng chính trị hậu thuẫn mạnh ở thành thị là lực lượng Công giáo, nhất là các giáo dân di từ miền Bắc vào. Ông đã quá thiên vị theo tôn giáo của mình, có tham vọng đưa Công giáo thành quốc giáo trong khi đó phần lớn người Việt Nam có truyền thống theo đạo Phật. Chính phủ của ông chủ yếu gồm người Công giáo, các quyền lợi nhiều nhất cũng giành cho tôn giáo của ông. Bằng cách này ông đã tự làm mất đồng minh, trong và ngoài nước, và gây ra những xáo trộn rất lớn cho chính trường và xã hội. Sau này chính lý do tôn giáo làm khởi phát cuộc đảo chính của Quân lực Việt Nam Cộng hoà chống lại Tổng thống Diệm vào tháng 11 năm 1963.
Hoa Kỳ, lúc đó, là đồng minh "sống còn" của Việt Nam Cộng hoà. Thiếu sự viện trợ của họ Việt Nam Cộng hoà không thể chống chọi được với miền Bắc. Quyền lợi toàn cầu của Hoa Kỳ đòi hỏi họ phải xây dựng một miền Nam Việt Nam phi cộng sản, độc lập, tự do theo tiêu chuẩn của thế giới và có thể đối đầu với miền Bắc. Khi các rối loạn sảy ra, khi mô hình dân chủ bị biến dạng thì tất yếu sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho chính phủ Ngô Đình Diệm cũng sẽ xấu đi.
Sau 3-4 năm đỉnh cao, bắt đầu từ năm 1958, chính phủ Việt Nam Cộng hoà bắt đầu phải đối phó với những khó khăn chính trị, quân sự ngày càng khó giải quyết, nhất là khi phe Cộng sản gia tăng các hoạt động của họ.
Các đối sách của Cộng sản miền Nam
Cộng sản miền Nam Việt Nam là bộ phận cấu thành của Cộng sản Việt Nam; Cộng sản Việt Nam là "bộ phận hữu cơ của phong trào Cộng sản và Công nhân toàn thế giới" (điều lệ đảng). Hệ thống Cộng sản có tổ chức chặt chẽ từ cơ sở đến cấp quốc gia lên đến khu vực, châu lục và đến cấp toàn thế giới. Nhưng Cộng sản miền Nam Việt Nam có những đặc trưng của người miền Nam. Những người Cộng sản Nam Việt Nam, do lịch sử khai hoang xứ Nam Bộ và ảnh hưởng văn hoá Pháp, mang cách sống, suy nghĩ và tác phong đặc trưng của người Nam Bộ: thoáng đạt, thực tế, chân thành, bộc trực và không thích bị gò ép. Họ có sự độc lập tương đối với Trung ương Đảng tại Hà Nội. Cộng sản Nam Việt Nam không thích dùng các lý luận như "Ba dòng thác cách mạng thế giới" hay "Bốn mâu thuẫn lớn của thời đại", không thích các tranh cãi giáo điều đặc trưng của những người Cộng sản đương thời; họ thích mọi việc rõ ràng và đơn giản. Trong hành động họ không bị ràng buộc bởi nguyên lý Mác-Lênin (Marxism-Leninism). Điều dễ nhận thấy là trong các lãnh tụ Cộng sản không có "nhà lý luận" nào là người Nam Bộ. Họ là những người thực tiễn.
Trong giai đoạn 1954-1959 những người Cộng sản miền Nam đã có các đối sách rất lợi hại, gây khó khăn cho chính phủ của Tổng thống Diệm. Từ chỗ bị truy sát ráo riết mà chỉ trong hai năm họ, không những hồi phục về tổ chức mà còn, phát triển thế chủ động tấn công cả về chính trị và về quân sự. Về chính trị, họ đã làm chính quyền lao đao bằng các cuộc đấu tranh chính trị rầm rộ ở nông thông và thành thị do họ điều khiển từ xa. Về quân sự, họ đã phát triển chiến tranh du kích và đã đánh được những trận lớn như trận Tua Hai (Tây Ninh) vào căn cứ cấp trung đoàn của quân chính phủ.
Về chính trị
Có thể nói rằng trong Chiến tranh Việt Nam điểm mạnh về đấu tranh chính trị luôn thuộc về phía Cộng sản vì họ là những người đã kháng chiến chín năm. Họ có uy tín và được dân chúng công nhận là những người hy sinh cho độc lập của dân tộc, là người của "Cụ Hồ". Ảnh hưởng của cuộc kháng chiến chín năm và thắng lợi của nó rất to lớn và sâu rộng trong lòng người dân miền Nam. Việt Minh rất được cảm tình của người dân nhất là ở nông thôn, miền núi. Những điểm yếu của xã hội Cộng sản như cải cách ruộng đất, đấu tranh giai cấp hay đấu tố địa chủ, mất tự do cá nhân... thì chỉ mới thể hiện ở miền Bắc. Người dân miền Nam, do các lý do khác nhau, chưa chứng kiến những sự kiện trên nên các tuyên truyền của chính phủ ít có tác dụng và dễ bị phản tuyên truyền của phe Cộng sản bẻ gẫy. Chính phủ miền Nam, trái lại, không có uy thế chính trị như vậy; lực lượng chính trị của họ, chủ yếu, chỉ ở các thành phố lớn mà thôi. Sau này thì phía Cộng sản lại kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đó không phải là một khẩu hiệu xuông mà đã được họ kết hợp rất nhuần nhuyễn và bài bản.
Ngay sau khi quân Việt Minh tập kết ra Bắc, những người Cộng sản Nam Việt Nam không còn chính quyền, quân đội và đã trở thành những phần tử hoạt động bí mật bị truy sát. Nhưng họ vẫn còn những cơ cấu đảng hoạt động bí mật tại nông thôn. Cộng sản Nam Việt Nam nhận thức được ngay rằng đó là thời điểm đấu tranh chính trị và chuyển tất cả mọi nỗ lực sang đấu tranh đó. Trong bối cảnh mới họ nhanh chóng thay đổi phương châm đấu tranh. Họ không tuyên truyền về các vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Cộng sản như "đấu tranh giai cấp", "chuyên chính vô sản", "liên minh công-nông" hay "sứ mạng của giai cấp công nhân"... vì chúng sẽ không hấp dẫn hoặc gây phản cảm trong dân chúng. Họ khai thác tình cảm dân tộc và lòng tự hào về cuộc kháng chiến chín năm, đòi thực thi Hiệp định Geneva, đòi tổng tuyển cử. Với các phương pháp dân vận tuyên truyền đúng tâm lý vào đúng thời điểm những người Cộng sản miền Nam đã vô hiệu hoá các nỗ lực chính trị của chính phủ Nam Việt Nam. Khai thác mọi sai lầm và dùng các thế yếu về xuất thân của các lãnh tụ của chính phủ này, Cộng sản miền Nam đã phản tuyên truyền về bản chất "tay sai đế quốc" của chính quyền và, từ đó, quy kết bản chất đấu tranh của họ là đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, chống lại "Đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai". Phương pháp tổ chức đấu tranh chính trị của họ cũng rất tinh vi theo từng tuyến rõ ràng:
- Binh vận: vận động trong quân đội đối phương, đưa người vào làm tình báo và làm phân rã ý chí chiến đấu của binh sĩ địch, kêu gọi họ bỏ ngũ, làm binh biến...
- Phụ vận: vận động các tầng lớp phụ nữ, thuyết phục họ không cho con em đi lính và tham gia vào đấu tranh chính trị chống chính quyền.
- Trí vận: vận động trong giới trí thức, chức sắc tôn giáo,... lôi kéo họ đứng về phía Cộng sản hoặc không chống lại Cộng sản. Nếu có thể, đưa người có cảm tình với Cộng sản vào cơ cấu chính quyền.
- Nông vận: vận động trong giới nông dân
- Thanh vận: vận động thanh niên
- ...
Khi cần họ còn kết hợp đấu tranh chính trị với hoạt động ám sát ("diệt ác ôn") để vô hiệu hoá và hù dọa những người không cùng phía với mình. Hậu quả của các hoạt động này là nhiều vùng nông thôn ở miền Nam chỉ còn vỏ của chính phủ còn xã trưởng, ấp trưởng... nếu không là Việt Cộng thì cũng bị Việt Cộng khống chế. Thậm chí phe Cộng sản còn thu được thuế trong vùng của chính phủ kiểm soát.
Phe Cộng sản cũng đã khôn khéo chia rẽ các lực lượng quốc gia vốn thường bất hoà với nhau. Người của Cộng sản có ở khắp nơi, họ tranh thủ mọi lực lượng, mọi người bằng các tình cảm anh em, đồng hương hay các hội tương thân tương ái. Ngay trong lực lượng Công giáo di cư cũng có rất nhiều người theo Cộng sản. Khi cần tổ chức các cuộc biểu tình, mít tinh các cán bộ Cộng sản dùng người mình đã móc nối để kích động tụ tập.
Một thuận lợi cho phe Cộng sản chính là những nhà lãnh đạo miền Nam lại hay tạo ra cơ hội để cho họ đấu tranh chính trị. Ông Ngô Đình Nhu và vợ, bà Trần Lệ Xuân, cùng những người thân khác của Tổng thống Ngô Đình Diệm, bằng sự không chín chắn của chính họ, đã tạo thêm kẻ thù trong xã hội, làm mất uy tín chính phủ và gây rối ren trên chính trường miền Nam lúc đó.
Về quân sự
Trong thời gian 1954-1956 Cộng sản miền Nam không chống nổi quân đội chính phủ trong các hoạt động vũ trang và họ chủ động chỉ rút lui vào rừng để bảo toàn lực lượng. Hơn nữa, Hà Nội không cho phép đấu tranh vũ trang có thể phương hại đến việc đòi tổng tuyển cử và dân chúng miền Nam lúc đó cũng không ủng hộ đánh nhau vào lúc hoà bình mới được lập lại.
Vì các chiến dịch tiễu trừ cộng sản của chính phủ, các lực lượng vũ trang Cộng sản đã phân tán thành các toán nhỏ và trà trộn vào các đội quân giáo phái như Cao Đài, Hoà Hảo. Khi quân các giáo phái bị tan rã, các bộ phận Cộng sản liền lùi sâu vào chiến khu, nhất là ở khu vực Đồng Tháp Mười và khu vực giáp biên với Campuchia. Họ tự khai hoang, tự nuôi sống và chờ cơ hội. Quân số thì chủ yếu lấy từ số thanh niên tự nguyện - vì căm thù chính phủ đã giết người thân của họ trong các chiến dịch tố cộng, diệt cộng. Trong thời kỳ này quân Cộng sản thực sự là của người miền Nam, hầu như không có lính người miền Bắc. Vũ khí nhẹ họ lấy từ các hầm chôn giấu trước đây do Việt Minh để lại và thu mua từ các nguồn người nhà binh sĩ và có cả đường dây từ Thái Lan mua về. Họ còn lập công binh xưởng để đúc khí giới, nhất là hoả lực tự tạo. Họ cũng chưa có quân phục; tổ chức cao nhất chỉ đến cấp đại đội, còn các tên tiểu đoàn, trung đoàn... cốt là để khuếch trương thanh thế. Nhưng họ đang chuẩn bị rất nỗ lực vì chẳng bao lâu nữa họ sẽ phát động chiến tranh du kích khắp nơi.
Sau 1956, khi không còn cơ hội tổng tuyển cử nữa, phe Cộng sản bắt đầu phát động chiến tranh du kích từ đánh nhỏ quấy rối đi lên đánh tập trung, đánh lớn. Vì còn chưa có tiếp tế từ miền Bắc nên cách xây dựng quân đội cũng có nhiều nét đặc trưng. Họ xây dựng quân đội theo mô hình của kháng chiến chống Pháp, cũng theo "ba thứ quân": bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.
Du kích thì tự nuôi lấy mình, sinh hoạt như là dân địa phương và hoạt động ngay trong địa bàn. Vì du kích không có các chiến thuật kỹ thuật nên hoạt động chính là hỗ trợ đấu tranh chính trị và quấy rối trị an, "Diệt ác phá kìm", chống càn. Nếu địch mạnh thì dấu quân vào hầm bí mật hoặc giải tán về nhà nằm chờ. Lúc thường thì làm giao liên, tải thương, tiếp đạn...
Bộ đội dịa phương là bộ đội tập trung của huyện, tỉnh, ăn mặc quân phục tự may, có hoạt động chủ yếu là tập kích đánh giao thông, bao vây đồn bót. Cấp tổ chức chỉ lên đến đại đội, tiểu đoàn vì phần lớn các địa phương chỉ có đủ kinh phí đến thế thôi.
Bộ đội chủ lực hoạt động tập trung dưới quyền Khu uỷ (miền Nam lúc đó được phe Cộng sản chia làm 6 khu: Khu Trị-Thiên, Khu 5, 6, 7, 8 và 9). Bộ đội chủ lực đã có các đơn vị hoả lực độc lập khả dĩ có thể đánh công kiên, đánh vận động nhưng còn chưa mạnh nên quân Cộng sản tránh giao chiến mặt đối mặt mà dùng cách đánh tập kích của đặc công. Ngay như trận Tua Hai nổi tiếng, đánh vào căn cứ Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 13 của chính phủ, cách đánh của họ chủ yếu là đưa người và vũ khí thâm nhập bí mật vào nội tuyến và lợi dụng sự chủ quan của địch để trong đánh ra ngoài đánh vào.
Một chiến thuật rất hiệu quả của quân Cộng sản áp dụng từ thời đó làm bó tay các cấp chỉ huy Quân lực Việt Nam Cộng hoà là chiến thuật "Kết hợp quân sự với chính trị". Cách đánh này có mô hình điển hình như sau:
- Việt Cộng phục kích đường giao thông,
- Quân chính phủ kéo đến giao chiến,
- Việt Cộng yếu thế rút vào xóm ấp cố thủ,
- Quân chính phủ bao vây và pháo kích,
- Lập tức các cán bộ nằm vùng của Cộng sản liền lôi kéo dân chúng ra biểu tình cản đường thiết giáp, kêu gào đòi bồi thường hoa màu, chống bắn pháo vào làng... Nếu có người thương vong thì vấn đề trở nên quá phức tạp cho quân chính phủ,
- Khi quân chính phủ đang rối trí thì quân Việt Cộng hoặc tập kích lại hoặc đã rút lui an toàn.
Trong hoàn cảnh một cuộc nội chiến và tình hình chính trị phức tạp như miền Nam Việt Nam lúc ấy thì chiến thuật này làm bó tay quân chính phủ và hạn chế được sức mạnh quân sự của họ. Quân đội chính phủ, khi đó, chưa được chuẩn bị để đối phó với kiểu chiến tranh này.
Một đặc điểm chiến sự khác là phe Cộng sản thiếu khả năng quản lý các vùng của họ vì họ rất nghèo. Họ không thể chăm lo cho hệ thống an sinh xã hội nên họ thường không đánh để chiếm đất mà chỉ cốt giành quyền làm chủ trên thực tế. Họ không xoá bỏ chính quyền địa phương của địch mà thao túng khống chế hệ thống đó để làm việc cho họ. Sau khi quân Cộng sản rút đi vùng đó vẫn cắm cờ của chính phủ và chính phủ vẫn phải trợ cấp vùng đó. Các vùng như vậy vẫn có bốt đóng nhưng quân chính phủ chỉ làm chủ trong đồn mà thôi, bên ngoài phe Cộng sản hoạt động tự do trong các việc như thu thuế và tuyển quân. Trong đồn và bên ngoài còn có liên lạc thoả thuận với nhau. Kiểu chung sống "hoà bình" như vậy rất phổ biến ở những vùng xa thành phố, nhất là sau khi thanh thế quân Cộng sản mạnh lên. Do vậy những thống kê về số dân hay diện tích đất đai mỗi bên kiểm soát đều rất khác nhau và khó có thể xác minh được.
Đặc điểm của giai đoạn này
Nói chung, trong thời kỳ 1954-1959 quân đội của Việt Nam Cộng hoà vẫn đang thắng thế trên chiến trường miền Nam. Nhưng đến cuối năm 1959 tình hình an ninh quân sự của miền Nam đã có những bất ổn, phe Cộng sản đã phát động chiến tranh du kích khắp nơi. Tình hình chính trị trở nên xấu đi vì các đường lối của chính phủ. Rồi khi miền Bắc công khai ủng hộ Cộng sản miền Nam thì tình hình còn tồi tệ hơn. Năm 1960 trở thành một năm có biến động lớn, mở ra một thời kỳ mới cho Chiến tranh Việt Nam.
Giai đoạn 1960-1965
Giai đoạn 1960-1965 là giai đoạn miền Bắc công khai ủng hộ Cộng sản miền Nam và bắt đầu đem quân thâm nhập miền Nam. Các lực lượng Cộng sản miền Nam thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam. Trong khi đó, Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng hoà tiến hành chiến lược Chiến tranh đặc biệt. Tuy nhiên, quân Cộng sản vẫn thắng thế trên chiến trường, đánh những chiến dịch lớn sát các đô thị. Tổng thống Ngô Đình Diệm không kiểm soát nổi khủng hoảng chính trị và bị Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đảo chính giết chết. Miền Nam Việt Nam, sau đó, rơi vào cuộc khủng hoảng lãnh đạo.
Bối cảnh quốc tế
Thập niên 1960 là thời kỳ nở rộ của khối Cộng sản. Tại Liên Xô và Đông Âu hình thức kinh tế tập trung và kế hoạch hoá đang phát huy các mặt tích cực của nó. Liên Xô tập trung mọi nguồn lực, bất chấp hậu quả sau này, cố đạt cho bằng được những chỉ tiêu kinh tế, chính trị được cho là ưu thế của hệ thống xã hội chủ nghĩa để tranh chấp với Hoa Kỳ vai trò lãnh đạo thế giới. Việc phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người (Sputnik 1) và đưa người đầu tiên vào vũ trụ (Yuri Gagarin) là biểu tượng của một siêu cường đang thắng thế. Liên Xô và Hoa Kỳ - hai kẻ thù tư tưởng - sẵn sàng đối chọi nhau ở mọi vấn đề quốc tế. Và Việt Nam là nơi mà hai phe muốn phô trương sức mạnh của mình.
Liên Xô tuy đã có vũ khí nguyên tử từ năm 1949 nhưng ưu thế quân sự của Hoa Kỳ vẫn áp đảo. Do đó Liên Xô vẫn e ngại sự quá căng thẳng với Hoa Kỳ và chỉ viện trợ cho miền Bắc ở mức đủ để xây dựng một "chủ nghĩa xã hội" cho đến thời điểm này. Đến thời điểm này cách tiếp cận của họ đã khác: cung cấp cho miền Bắc Việt Nam nhiều hơn. Đây cũng là thời kỳ Quân đội Nhân dân được hiện đại hoá mạnh mẽ, trang bị lại với vũ khí mới kể cả các vũ khí hạng nặng, các binh chủng kỹ thuật ra đời để đáp ứng chiến tranh hiện đại: không quân, radar, tên lửa phòng không... Quân đội miền Bắc liên tiếp tiến hành các cuộc tập trận lớn với giả định đánh quân đổ bộ đường không và chống xe tăng Mỹ.
Trung Quốc, lúc đó đang cạnh tranh vai trò lãnh đạo phe Xã hội Chủ nghĩa với Liên Xô, cũng không muốn vai trò của mình kém hơn đối thủ cùng tư tưởng. Họ viện trợ cho miền Bắc, trong giai đoạn này, còn nhiều hơn Liên Xô. Họ khuyến khích miền Bắc chiến đấu giải phóng miền Nam mà không sợ quân đội Mỹ tham chiến ("Đế quốc Mỹ là con hổ giấy" - Mao Trạch Đông). Cả Liên Xô và Trung Quốc đảm bảo nếu Hoa Kỳ đánh ra miền Bắc họ sẽ can thiệp bảo vệ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Hoa Kỳ cũng quyết tâm không bỏ cuộc tại Nam Việt Nam vì uy tín của một siêu cường thế giới không cho phép họ làm như vậy. Để đối phó với sự gia tăng chiến tranh của phe Cộng sản, Hoa Kỳ giúp Nam Việt Nam tiến hành chiến tranh đặc biệt.
Trên chiến trường miền Nam
Sau vài năm kiềm chế, năm 1959 Đảng Lao động Việt Nam đã ra Nghị quyết 15 công khai cổ vũ đấu tranh vũ trang. Năm 1960, Đại hội đảng thứ 3 tại Hà Nội đã bầu ông Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất (tương đương Tổng bí thư). Ông là người chủ trương đấu tranh bằng vũ trang với mọi hy sinh để "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội". Ngay lập tức chiến trường miền Nam có sự đột biến. Phía Cộng sản phát động ngay một đợt tiến công quy mô kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang mà trong đó chính trị vẫn đóng vai trò chủ đạo. Họ dùng quân bao vây các đồn bốt ở các vùng xa bị cô lập, phát động nông dân ở nông thôn nổi dậy giành chính quyền, phá ấp chiến lược, lùng bắt, thủ tiêu các nhân viên chính quyền tại địa bàn. Các hoạt động nổi dậy được phối hợp nhịp nhàng cùng lúc với lực lượng vũ trang. Họ đánh hoặc bao vây các vị trí quân sự để không cho quân chính phủ kéo về can thiệp và, đồng thời, họ phát động dân chúng biểu tình; nếu thấy đối phương yếu thế thì biểu tình phát triển thành nổi dậy cướp chính quyền, nếu chưa thể thì kéo dài đưa ra các yêu sách quấy rối làm tê liệt chính quyền. Nếu chính phủ điều quân tới thì những người biểu tình bao vây lấy quân đội bắt đầu binh vận ngay tại chỗ. Phương cách này được phía Cộng sản đúc kết thành phương châm "Ba mũi giáp công" (quân sự, chính trị, binh vận). Phong trào được gọi tên là Đồng khởi bắt đầu được thí điểm tại tỉnh Bến Tre. Sau khi thấy chính phủ Ngô Đình Diệm lúng túng trong việc lập lại trật tự các vùng khác cũng theo nhau đồng khởi. Đến cuối năm 1960 một phần đáng kể của nông thôn miền Nam đã thành vùng do Cộng sản kiểm soát.
Để cho cuộc chiến có chính danh, ngày 20 tháng 12 năm 1960 phía Cộng sản thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam gồm nhiều đại diện các thành phần tôn giáo, tầng lớp xã hội, dân tộc khác nhau nhưng thực tế là tổ chức do những người Cộng sản điều khiển. Ngày 15 tháng 2 năm 1961, họ thành lập Quân Giải phóng Miền Nam. Kể từ lúc này tại miền Nam đã chính thức tồn tại hai chính quyền, hai quân đội đối địch. Phía Cộng sản đã đủ mạnh để đánh được chỗ nào là họ thành lập "chính quyền cách mạng".
Đứng trước tình hình trên Hoa Kỳ thấy cần hành động gấp giúp Việt Nam Cộng hoà đẩy lùi phía Cộng sản. Tướng Maxwell D. Taylor được phái sang Việt Nam đánh giá tình hình. Kế hoạch Staley-Taylor được soạn thảo và đem thi hành để chống lại chiến tranh du kích, bình định miền Nam trong vòng 18 tháng. Người Mỹ luôn suy nghĩ theo cách cân đong vật chất, đối với họ sự thắng thua trong chiến tranh được quyết định bằng súng đạn. Kế hoạch trên tuy có tính đến khía cạnh chính trị nhưng còn quá sơ sài, nó tập trung nhiều nhất đến khía cạnh quân sự: tăng quân số, tăng lương binh sĩ, tăng cường binh lực trang thiết bị...
Kế hoạch Staley-Taylor, hay còn gọi là kế hoạch chiến tranh đặc biệt, có công thức tổng quát là: Quân đội Việt Nam Cộng hoà + Cố vấn Mỹ + Vũ khí Mỹ + Viện trợ kinh tế Mỹ. Viện trợ Mỹ bao gồm các kế hoạch tăng cường sức mạnh cho quân đội miền Nam: gấp rút tăng quân số, cung cấp xe thiết giáp và máy bay, nhất là trực thăng, đưa cố vấn quân sự Mỹ xuống đến đơn vị chiến đấu để giúp các sĩ quan Nam Việt Nam vạch kế hoạch hành quân và chỉ huy chiến đấu. Chiến thuật của quân đội Nam Việt Nam là trực thăng vận và thiết xa vận: khi phát hiện các đơn vị của địch lập tức dùng trực thăng đổ quân bao vây chặt lấy, sau đó gọi thiết giáp đến đánh giải quyết chiến trường (chiến thuật "tung lưới-phóng lao"). Trong thời gian đầu chiến tranh đặc biệt đã phát huy tác dụng khá tốt, tình hình quân sự được ổn định, quân Cộng sản bị chiến thuật cơ động nhanh "tung lưới-phóng lao" làm thương vong, họ phải chuyển hoạt động ra xa, hành quân và đánh đêm là chính. Để chống chiến thuật "Chính trị kết hợp với quân sự" của phía Cộng sản và cách ly họ ra khỏi dân chúng, chính phủ Nam Việt Nam quyết tâm tiến hành quyết liệt "Quốc sách Ấp chiến lược". Ở thời điểm đó thì các khu trù mật, ấp chiến lược ở nông thôn miền Nam đã thực sự trở thành các trại tập trung có rào thép gai, dãy chông, tháp canh xung quanh, người dân đã bị giam trong các ấp chiến lược. Điều này đã làm méo mó hình ảnh dân chủ và Hoa Kỳ đã phải nhiều lần khuyến cáo Tổng thống Ngô Đình Diệm nhưng không được tiếp thu.
Về phía Cộng sản thời gian này việc lấy quân tại miền Nam không còn đủ để đáp ứng cho nhu cầu quân số mở rộng, họ đã dùng binh lính miền Bắc hành quân vào theo đường Trường Sơn. Lúc này và cho đến khi kết thúc chiến tranh tại chiến trường miền Nam có hai quân đội chính quy của Cộng sản. Thứ nhất là Quân đội Nhân dân Việt Nam, gồm các thanh niên miền Bắc nhập ngũ vào Nam, dưới chỉ huy trực tiếp của Bộ tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân tại Hà Nội (còn gọi là quân Bắc Việt). Thứ hai là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thuộc bộ chỉ huy quân Giải phóng tại rừng Tây Ninh (thường gọi là quân Việt Cộng). Đầu tiên thành phần quân lính miền Bắc trong quân Việt Cộng còn ít, khoảng 20-30%. Sau này, khi đến 1965, thì số đó khoảng 60-70%. Trong thời kỳ 1960-1965 tại chiến trường miền Nam các hoạt động tác chiến chủ yếu là Quân Giải phóng còn các đơn vị quân đội Bắc Việt chủ yếu đang đứng chân vòng ngoài tại tuyến đường Trường Sơn, Tây Nguyên họ đang xây dựng các căn cứ để đánh lớn sau này.
Sau gần hai năm kinh nghiệm chiến đấu Quân Giải phóng đã biết cách xử lý các nhược điểm của chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của quân đội Việt Nam Cộng hoà. Ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại tỉnh Tiền Giang đã xảy ra trận Ấp Bắc và quân đội Việt Nam Cộng hoà đã thất bại nặng. Trận đánh này được báo chí thế giới mô tả kỹ lưỡng và cho thấy quân Cộng sản không còn là các nhóm quân nhỏ bất lực trước trực thăng vận, thiết xa vận nữa mà họ đã lớn mạnh đủ để đánh bại quân cơ động của đối phương.
Trong năm 1963 và 1964 quân Cộng sản thắng thế tiến công trên toàn chiến trường và đến tháng 12 năm 1964 họ tiến hành chiến dịch Bình Giã tại tỉnh Bà Rịa. Trong vòng một tháng họ dùng cấp sư đoàn liên tục làm thiệt hại các chiến đoàn thiết giáp cơ động và các đơn vị dự bị chiến lược của quân đội Nam Việt Nam. Cùng với các trận đánh lớn khác họ ép quân đội Nam Việt Nam lui về thế thủ gần các thành phố lớn. Ở nông thôn chỗ nào quân Cộng sản đến là họ cho phá dỡ ấp chiến lược. Cuối năm 1963, khi Tổng thống Diệm bị lật đổ, chỗ nào còn ấp chiến lược thì cũng bị dân chúng tự nổi lên phá hết.
Chính phủ Hoa Kỳ lập tức can thiệp từ chỗ đưa lính kỹ thuật không quân vào các sân bay miền Nam đến việc đưa lục quân vào trực tiếp tham chiến với phe Cộng sản vào giữa năm 1965.
Ngày 8 tháng 5 năm 1963 xảy ra vụ Phật đản tại Huế. Sự kiện này bắt nguồn từ sự kỳ thị tôn giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm và hậu quả của sự lộng hành của anh em Tổng thống. Từ một vụ lộn xộn cảnh sát không cho treo cờ Phật giáo nhân ngày Phật đản, chính phủ Ngô Đình Diệm đã làm tình hình trở nên khủng hoảng trầm trọng bất chấp những khuyến cáo của Hoa Kỳ. Cho đến khi Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của chính phủ, rồi một loạt các cuộc tự thiêu khác của Phật tử, đã làm chấn động tình hình trong nước và quốc tế (Xem Sự kiện Đàn át Phật giáo 1963). Tình thế đã vượt khỏi tầm kiểm soát của chính phủ Nam Việt Nam. Ngày 1 tháng 11 năm 1963 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự chỉ huy của Đại tướng Dương Văn Minh, với sự im lặng không phản đối của Hoa Kỳ đã làm đảo chính lật đổ và giết chết ba anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Bắt đầu từ đó miền Nam Việt Nam rơi vào khủng hoảng lãnh đạo trầm trọng trong một thời gian gần hai năm. Cho đến khi nhóm quân nhân của hai tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ lên chấp chính thành lập Hội đồng lãnh đạo Quốc gia (tháng 6 năm 1965) thì tình hình mới tạm yên. Với các thất bại trên chiến trường và tình hình chính trị rối loạn, chính phủ Hoa Kỳ quyết định đem quân đội Hoa Kỳ để giữ miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng sản.
Giai đoạn 1965-1968
Đây là giai đoạn ác liệt nhất của Chiến tranh Việt Nam mà người Mỹ gọi là Chiến tranh cục bộ. Ngay tên gọi "chiến tranh cục bộ" đã cho thấy tính phức tạp rất dễ bùng nổ của tình hình mà Tổng thống Lyndon B. Johnson phải giải quyết. Một mặt quân đội Hoa Kỳ phải can thiệp vũ trang quét sạch quân Cộng sản; mặt khác, họ phải giữ chiến tranh cố định trong cái bình Việt Nam, không để nó thoát ra đụng chạm đến khối Cộng sản để có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh như Chiến tranh Triều Tiên. Chính phủ Hoa Kỳ đã thành công trong việc hạn chế nhưng việc đó làm họ không thành công trong mục tiêu bình định quân Cộng sản. Các đồng minh lớn của miền Bắc là Liên Xô, Trung Quốc cũng quyết tâm theo đuổi giúp cho Bắc Việt Nam chiến đấu chống Hoa Kỳ. Họ thấy đây là cơ hội rất tốt để làm Hoa Kỳ sa lầy tại Việt Nam. Trong lúc đó, các cường quốc này vươn lên và tranh chấp ngôi vị lãnh đạo thế giới.
Việc các lực lượng Quốc gia hoan nghênh đưa quân đội Hoa Kỳ vào Nam Việt Nam đã đẩy lui quân Cộng sản và mở ra một hy vọng chiến thắng nhưng, đồng thời, từ đó chính phủ Việt Nam Cộng hoà không còn độc lập trong các quyết định của họ được nữa.
Sự leo thang chiến tranh của Hoa Kỳ
Chính vì những tế nhị chính trị như vậy nên sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đã diễn ra theo cách leo thang dần. Đầu tiên họ cho rằng không cần tham chiến vẫn có thể giải quyết chiến tranh nếu ngăn chặn được nguồn tiếp tế của miền Bắc. Hoa Kỳ ra sức ép nếu miền Bắc không chấm dứt tiếp tế cho Cộng sản miền Nam thì sẽ phải đối mặt với việc bị ném bom. Trước đó, vì Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Quốc hội Hoa kỳ đã uỷ nhiệm cho chính phủ tiến hành các hoạt động chiến tranh nếu thấy cần thiết mà không cần có sự phê chuẩn của Quốc hội. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bất chấp sức ép của Hoa Kỳ và tiếp tục tiếp tế vào miền Nam. Tháng 8 năm 1964, Hoa Kỳ bắt đầu các cuộc ném bom miền Bắc. Để duy trì việc ném bom, Hoa Kỳ phải đưa máy bay và lính không quân vào các sân bay tại miền Nam, lập các căn cứ tại đó. Điều này tất nhiên dẫn đến việc quân Cộng sản tiến công các sân bay.
Để bảo vệ các căn cứ trong sân bay, Hoa Kỳ cần gửi thêm lính thuỷ đánh bộ. Sau đó lại xuất hiện vấn đề phải phòng thủ từ xa và, cuối cùng, là phải tìm-diệt đối phương sâu trong các căn cứ của họ. Thế là quân Mỹ đã dần dần trực tiếp đánh thay cho quân đội Nam Việt Nam và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa dần dần chỉ còn là lực lượng giữ an ninh tại các vùng họ kiểm soát.
Miền Bắc và chiến tranh không quân
Bắt đầu từ tháng 8 năm 1964 miền Bắc đã phải đối phó với chiến tranh không quân rất ác liệt của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ. Đầu tiên là các chiến dịch Sấm Rền đánh vào các tỉnh từ Thanh Hoá trở vào, sau đó chiến tranh không quân lan rộng ra toàn miền Bắc Việt Nam. Để đề phòng các phản ứng của quốc tế, Không quân Mỹ chỉ chừa lại nội thành hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng mà thôi. Chiến tranh không quân nhắm vào hệ thống đường xá giao thông và các mục tiêu công nghiệp, quân sự. Thậm chí các trạm biến thế điện nhỏ, các nhánh đường sắt phụ cũng bị đánh. Đặc biệt nhất là tại khu vực hai tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, tiếp giáp miền Nam là cuống họng tiếp tế vào Nam, và tại khu vực Vĩnh Linh giáp sông Bến Hải, dân chúng phải sống trong địa đạo.
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thoả thuận với Chính phủ Trung Quốc đưa một bộ phận quân đội Trung Quốc vào Bắc Việt Nam cho họ đóng ở những vị trí quan trọng về chiến lược như tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên và dọc đường số 1 đến phía nam Hà Nội với lý do là giúp Việt Nam làm đường nhưng thực chất là để thị uy với Hoa Kỳ đừng mang quân đổ bộ ra Bắc vì sẽ phải đánh nhau với quân Trung Quốc.
Tốp máy bay F105 Của Không quân Mỹ đang oanh tạc Bắc Việt Nam 1966
Việc ném bom miền Bắc sẽ khó có thể đánh sụp được tiềm lực chiến tranh của miền Bắc vì xã hội miền Bắc là xã hội nông nghiệp lạc hậu không có nhiều các mục tiêu công nghiệp lớn. Mọi nguồn lực chiến tranh được các nước Cộng sản bên ngoài cung cấp. Ở điều kiện Bắc Việt Nam chiến tranh không quân sẽ chỉ có tác dụng lớn nếu như nó đánh gẫy được ý chí của dân chúng miền Bắc.
Cuộc sống của người dân Bắc Việt đã khó khăn lại càng khó khăn căng thẳng, ngay cả bộ đội cũng bị thiếu ăn. Ở thành thị dân chúng phải tản cư về nông thôn để tránh bom, nhu yếu phẩm cho dân thành thị được bán theo chế độ tem phiếu rất nghiêm ngặt. Ở nông thôn, ngoài số thực phẩm tối thiểu được để lại để nuôi sống gia đình, tất cả các nông phẩm phải đưa hết vào kho cho nhu cầu quốc phòng. Nông thôn gần như không thấy nam thanh niên, đến tuổi là họ đi bộ đội hết chỉ trừ những người kém sức khoẻ. Nữ thanh niên vừa phải lao động sản xuất vừa phải tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ bảo vệ trật tự và tham gia huấn luyện quân sự, bắn máy bay. Chính phủ đã huy động hàng vạn nữ thanh niên đi Thanh niên xung phong sinh hoạt tập trung như bộ đội vào tuyến lửa các tỉnh bị đánh phá nặng nề nhất như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và vào tuyến đường Trường Sơn, sang Lào để làm lính hậu cần và làm công binh đảm bảo giao thông. Số này bị thương vong vì bom đạn và bệnh tật rất nhiều. Để bảo đảm dân số và tôn trọng tín ngưỡng người Việt là để lại con cháu nối dõi tông đường, người ta cố gắng tạo điều kiện cho thanh niên lấy vợ sớm trước khi nhập ngũ. Nhà nước tìm mọi cách nâng cao tinh thần của dân chúng cho kháng chiến. Tất cả mọi người đều phải tham gia các tổ chức quần chúng của Đảng như Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên, Hội phụ lão, Hội phụ nữ, Hội vợ chiến sĩ, Hội mẹ chiến sĩ... các hội này thực hiện các chỉ thị của đảng để giữ vững tinh thần và niềm tin trong dân chúng và thi hành các đường lối của đảng trong dân. Những tin tức ác liệt của chiến trường, số thương vong nặng nề ở miền Nam và chết bom ở miền Bắc không được công bố hoặc với số lượng giảm đi rất nhiều, chủ yếu trên thông tin báo đài là các tin chiến thắng lẫy lừng. Người ta cố gắng xây dựng và nhân rộng các điển hình của chủ nghĩa anh hùng cách mạng bằng cách đưa những người có chiến công thật đi tuyên truyền, kể chuyện chiến thắng, nếu không có chiến công thì sáng tác ra chiến công. Ngành nào, địa phương nào cũng phải có chiến công anh hùng cách mạng. Nói chung, tinh thần của người dân miền Bắc vẫn cao họ vẫn có thể chấp nhận hy sinh cao hơn nữa để theo đuổi chiến tranh.
Lực lượng phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam không thể đua tranh với Không quân và Hải quân Hoa Kỳ nên họ chỉ dồn sức bảo vệ các mục tiêu thật quan trọng như Hà Nội, Hải Phòng, các thành phố lớn, các điểm giao thông quan trọng và các nơi máy bay địch hay qua lại nhiều. Những nơi còn lại là phân cho các lực lượng dân quân tự vệ trang bị pháo và súng máy phòng không đảm trách. Đến năm 1965 phòng không của miền Bắc có trang bị khá hiện đại do Liên Xô cung cấp gồm nhiều trung đoàn pháo phòng không các tầm cỡ điều khiển bằng radar. Hệ thống radar cảnh giới và dẫn đường cho không quân. Hệ thống tên lửa phòng không và không quân tiêm kích. Các lực lượng phòng không của miền Bắc đã chiến đấu khá sáng tạo vô hiệu hoá được các thủ thuật chiến tranh điện tử và chống trả quyết liệt với Không quân và Hải quân Hoa Kỳ.
Các chiến dịch tìm-diệt
Ngay sau khi quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam tình hình chiến sự thay đổi có lợi cho phía Mỹ và Nam Việt Nam. Quân Cộng sản bị đẩy lui vào thế thủ và bị không quân và kỵ binh bay của Mỹ truy đuổi. Các đơn vị lớn phải rời bỏ vùng đồng bằng trống trải để lui về miền núi và nơi có rừng. Ở đồng bằng họ chỉ để lại các đơn vị nhỏ và phát động chiến tranh nhân dân đánh du kích.
Tháng 11 năm 1965 đã xảy ra một trận đánh rất ác liệt tại vùng thung lũng sông Ia Drang, gần biên giới Campuchia thuộc tỉnh Kon Tum. Một trung đoàn quân chính quy Bắc Việt và một lữ đoàn thuộc sư đoàn kỵ binh bay số 1 của Mỹ đã dàn quân đánh nhau để thử sức. Thực chất đây là hai trận đánh liên tiếp, trận Xray và trận Albany, diễn ra trong bốn ngày đêm. Mỗi bên thắng một trận, hai bên đều bị thương vong nặng và, tuy cùng tuyên bố thắng lợi, đều kính nể đối phương. Sau trận này phía Cộng sản nhận thức được ưu thế áp đảo quân sự của quân Mỹ. Phía Mỹ có hoả lực cực mạnh và tổ chức chiến đấu hoàn hảo. Đặc biệt có yểm trợ không quân rất hiệu quả mà vũ khí khủng khiếp nhất của họ là máy bay B52, bom napal và trực thăng vũ trang, nên từ đó quân Cộng sản bỏ tham vọng đánh tiêu diệt các đơn vị cấp đại đội, tiểu đoàn, họ tránh đánh những trận dàn quân xung phong mà chỉ áp dụng chiến thuật đánh tập kích. Quân của họ luôn bám sát những toán quân Mỹ nhưng không giao chiến, chỉ khi địch dựng trại nghỉ ngơi hoặc sơ hở thì họ tập kích hoặc phục kích, đánh xong nhanh chóng rời chiến trường. Một khi xung phong thì luôn áp sát đánh gần để không cho địch sử dụng pháo binh và không quân. Dù rất hiện đại nhưng quân đội Hoa Kỳ không quen chiến đấu trong địa hình rừng núi quen thuộc của đối phương, nơi mà vũ khí của họ không phát huy hết tác dụng. Quân Mỹ "tìm-diệt" nhưng chẳng thấy địch đâu tuy bất cứ lúc nào họ cũng có thể xuất hiện.
Lính Mỹ đang đốt căn cứ của Việt Cộng trong rừng
Trong hai năm 1966 và 1967 đánh nhau giữa hai bên diễn ra chủ yếu tại miền Đông Nam Bộ nơi có các căn cứ và kho tàng lớn của phía Cộng sản. Bộ chỉ huy chiến trường của Mỹ đã tung ra ba chiến dịch lớn để đánh vào các căn cứ này là các chiến dịch:
- Chiến dịch Cedar Falls - đánh vào khu tam giác sắt Củ Chi, nơi có hệ thống địa đạo phía Cộng sản dùng làm bàn đạp thâm nhập Sài Gòn;
- Chiến dịch Atteleboro - đánh vào chiến khu Dương Minh Châu; và
- Chiến dịch Junction city - đánh vào chiến khu B của Cộng sản.
Đặc biệt là chiến dịch Junction city quân Mỹ định đánh một trận lớn để diệt gọn cơ cấu lãnh đạo chiến tranh của Cộng sản miền Nam tại vùng rừng Tây Ninh. Bao vây và đánh vào khu căn cứ đầu não của Trung ương cục Đảng Cộng sản, Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Quân Giải phóng. Các cuộc tiến công tuy đã huy động rất lớn các lực lượng của Mỹ nhưng không đem lại kết quả: các cơ cấu lãnh đạo, kho tàng, căn cứ của quân Cộng sản vẫn an toàn, quân Mỹ bị tiến công liên tục, trong thế trận quân địch đã bày sẵn, trong địa bàn quen thuộc của đối phương và phải bỏ dở các cuộc hành quân. Đến cuối năm 1967, tuy đẩy lui chủ lực của Cộng sản tại vùng đồng bằng nhưng quân Mỹ vẫn không bình định được quân địch trong vùng rừng núi miền Nam Việt Nam.
Để xoay chuyển tình thế tạo đột phá cho chiến tranh Bộ chỉ huy tối cao Cộng sản tại Hà Nội quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
Sự kiện Tết Mậu Thân
Vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 phía Cộng sản tung ra trận Tổng tiến công và nổi dậy khắp miền Nam, đánh vào hầu hết các thành phố, thị xã và các căn cứ quân sự của đối phương. Đây là một sự kiện gây chấn động trên thế giới và gây nhiều bàn cãi nhất về Chiến tranh Việt Nam và nó có một vai trò to lớn trong cuộc chiến tranh này.
Nắm được điểm yếu của phía Mỹ là dư luận tại Mỹ, cả nhân dân và chính giới, ngày càng trở nên khó kiên nhẫn và phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh không cho phép quân đội tham chiến quá lâu tại nước ngoài mà không có được một tiến bộ rõ rệt khả dĩ cho phép rút quân về nước. Phía Cộng sản hoạch định một trận đánh gây tiếng vang lớn "Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị" (Lê Duẩn) nhằm buộc Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.
Cuộc tiến công đã đồng loạt nổ ra vào đêm 30 Tết Mậu Thân tức ngày 30 tháng 1 năm 1968 trên khắp các đô thị miền Nam. Ngay đêm đầu tiên quân biệt động cảm tử của Cộng sản đã nhằm vào các mục tiêu khó tin nhất ở Sài Gòn: Toà Đaị sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, đài phát thanh, bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Sau đó quân tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tiến công đã gây bất ngờ lớn cho phía Mỹ và Nam Việt Nam.
- Bất ngờ về mục tiêu và thời điểm tiến công: 10 ngày trước, hai sư đoàn quân Bắc Việt đã có hành động nghi binh bằng cách tấn công căn cứ của lính thuỷ đánh bộ Mỹ tại Khe Sanh làm bộ chỉ huy Mỹ tập trung tâm trí và binh lực lên miền núi Quảng Trị để tránh một trận Điện Biên Phủ mới. Việc Cộng sản tiến công vào các đô thị không hề được lường trước làm cho quân Nam Việt Nam và Mỹ hoàn toàn bất ngờ khi một bộ phận sĩ quan và binh lính (kể cả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) đang về quê nghỉ tết.
- Bất ngờ về quy mô tiến công: cuộc tiến công làm sửng sốt mọi người khi mà đồng loạt tại tất cả các đô thị cùng diễn ra các trận đánh nhau quyết liệt trong gần một tháng (chỉ riêng đợt 1) và điều bất ngờ này cho thấy 3 năm tìm-diệt của quân đội Hoa Kỳ chỉ đạt được hiệu quả thấp.
- Bất ngờ về độ sát thương bạo liệt không khoan nhượng: từng dãy phố bị ném bom napal, quân sĩ hai bên mụ mị đánh nhau như điên dại, tràn lan mức độ giết chóc và trả thù, hành quyết ngay trên phố (Xem Sự kiện tướng Nguyễn Ngọc Loan) ... điều này được truyền thông nhanh chóng gây ấn tượng rất lớn lên tâm lý dư luận thế giới.
Về mặt tác chiến trong số các đô thị, phe Cộng sản thành công nhất tại cố đô Huế (Xem thảm sát Huế Tết Mậu Thân). Họ chiếm giữ thành phố 25 ngày và sau đó đánh nhau ác liệt giành giật từng khu nhà đoạn phố với lính thuỷ đánh bộ Mỹ.
Để khuếch đại tiếng vang đến mức tối đa, các lãnh đạo của phía Cộng sản đã lựa chọn phương án mạo hiểm nhất là đánh thẳng vào hậu phương của địch. Trong việc lập kế hoạch cho cuộc tổng tiến công, Cộng sản đã có những đánh giá không đúng với thực tế tình hình và duy ý chí: họ hy vọng cùng với tiến công quân sự đánh vào các lực lượng Nam Việt Nam ở trong các đô thị họ có thể phát động dân chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa đánh sụp chính quyền Nam Việt Nam và đặt Mỹ trước tình thế phải đi đến quyết định ra đi khỏi chiến tranh. Kế hoạch trên dựa trên nhận định thấp về khả năng của Quân lực Việt Nam Cộng hoà và đánh giá quá cao khả năng của họ nên trong thực tế quân Cộng sản đã bị thương vong cực kỳ to lớn mà không phát động được khởi nghĩa của người dân; chính quyền Việt Nam Cộng hoà vẫn đứng vững.
Một đặc điểm nữa của việc lập kế hoạch tiến công Mậu Thân 1968 là các cấp chỉ huy chiến đấu của quân Cộng sản đã không tách bạch được đâu là mục tiêu chính trị thực chất của cuộc tiến công và đâu là mục tiêu được phổ biến rộng rãi trong quân sĩ để cổ vũ khí thế chiến đấu. Mục tiêu thực chất là đánh lớn gây tiếng vang hướng tới dư luận và chính giới Mỹ để buộc đối phương xuống thang, đàm phán. Còn mục tiêu chính trị được phổ biến tuyên truyền trong cán bộ binh sĩ để nâng cao sĩ khí là đó là trận cuối cùng "đánh dứt điểm" đối phương. Các cán bộ chiến trường khi lập kế hoạch tác chiến cũng tin tưởng vào quyết tâm đánh dứt điểm của cấp trên nên họ lập kế hoạch và tiến hành đánh theo kiểu trận đánh cuối cùng. Điều này làm cho các thiệt hại của Cộng sản càng thêm nặng nề.
Điều tệ hại hơn nữa cho quân Cộng sản là họ đã không linh hoạt thay đổi tuỳ theo tình hình. Khi thấy chưa đạt được mục tiêu trong đợt tấn công đầu tiên họ đã phát động tiếp đợt 2 vào tháng 5, đợt 3 vào tháng 8 khi mà kế hoạch đã bại lộ và đối phương đã đề phòng và chuẩn bị đón đánh, làm cho thiệt hại của Cộng sản càng khủng khiếp hơn nữa.
Sau tổng tiến công Mậu Thân, phe Cộng sản bị đẩy ra xa và suy yếu trầm trọng: Các đơn vị quân sự tan vỡ, các lực lượng chính trị bị bộc lộ và bị triệt phá gần hết, thương vong bằng cả 10 năm trước cộng lại. Thậm chí đã có ý kiến trong giới lãnh đạo Quân Giải phóng là cho giải tán các sư đoàn, trung đoàn chính quy quay trở về lối đánh du kích. Họ không còn khả năng đánh nhau tại miền Nam và phải chạy đi ẩn náu tại bên kia biên giới Lào và Campuchia, phải 3-4 năm sau lực lượng của họ mới hồi phục lại được. Trong các năm sau Mậu Thân, từ 1969 đến 1971, là thời gian quân đội Nam Việt Nam chủ động tiến công lùng đánh quân Cộng sản, triệt phá phong trào chính trị của Cộng sản ở nông thôn và thành thị. Đó là cơ sở để phía Mỹ và Nam Việt Nam cho rằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của Cộng sản đã thất bại thảm hại.
Mặt khác Cộng sản cũng có lý do để cho rằng Mậu Thân 1968 là thắng lợi có tính chiến lược trong chiến tranh của họ: bắt buộc Hoa Kỳ phải xuống thang và bắt đầu rút khỏi Việt Nam. Cộng sản suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn Hoa Kỳ một khi đã ra đi thì khó mà trở lại được.
Cuộc tổng tiến công đã làm dư luận Mỹ thấy rằng việc đưa quân tham chiến với nỗ lực cao đã làm căng thẳng trong xã hội Mỹ, phúc lợi giảm sút, gây nhiều hệ luỵ xấu cho xã hội... mà vẫn không dứt điểm được quân Cộng sản và trong tương lai chiến tranh không biết đến bao giờ. Điều này đưa đến kết luận là Hoa Kỳ không thể thắng được trong cuộc chiến này. Các chính trị gia trong Quốc hội Hoa Kỳ gây sức ép lên chính phủ đòi xem xét lại cam kết chiến tranh, đòi huỷ bỏ uỷ quyền cho chính phủ tiến hành chiến tranh không cần phê chuẩn, thúc ép giải quyết chiến tranh bằng thương lượng.
Quy mô của cuộc tiến công làm dư luận Hoa Kỳ mất kiên nhẫn và tin tưởng với giới quân sự, họ đòi chấm dứt chiến tranh mang quân về nước. Một mặt họ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội, mặt khác các hành động bạo liệt mất nhân tính được trình chiếu trên TV đánh vào lương tâm công chúng (Xem Thảm sát Mỹ Lai, Thảm sát của đơn vị Lực lượng Mãnh Hổ). Họ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Họ coi chiến tranh là bẩn thỉu.
Ngay các nhà lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ cũng chia rẽ trong quan điểm sẽ làm gì tiếp theo. Các cố vấn hàng đầu của tổng thống và ngay Tổng thống Johnson thoái chí đi đến kết luận không thể tăng quân thêm nữa theo yêu cầu của giới quân sự mà phải xuống thang, đàm phán.
Kết quả ngày 31 tháng 3 năm 1968 Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh, không tăng thêm quân theo yêu cầu của Bộ chỉ huy chiến trường và từ chối tranh cử nhiệm kỳ tới. Tổng thống Richard M. Nixon, thắng cử vì hứa chấm dứt chiến tranh, tuyên bố sẽ dần rút quân về nước và đàm phán với phía Cộng sản. Vấn đề của Hoa Kỳ bây giờ không còn là chiến thắng cuộc chiến nữa mà là rút ra như thế nào.
Tất cả những điều trên làm cho Cộng sản thấy rằng họ đã đạt được mục tiêu của cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 cho dù với giá hy sinh cực kỳ to lớn.
Hậu quả quân sự và chính trị
Cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 đã dẫn đến các kết quả chính trị và quân sự cho cả thời kỳ 1969-1971.
Về quân sự: Quâ